Khám phá hùng vĩ Ngũ Hành Sơn

Ngũ Hành Sơn hay núi Non Nước là tên chung của một danh thắng gồm 6 ngọn núi đá vôi nhô lên trên một bãi cát ven biển với diện tích khoảng 2 km, gồm Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn (có 2 ngọn) và Thổ Sơn. Mỗi ngọn núi có một vẻ đẹp riêng, một nét hùng vĩ riêng về hình dáng, vị trí, chất liệu đá, về hang động, chùa chiềng bên trong.

Ngu_hanh_son_toan_canh

Ngũ Hành Sơn hùng vĩ

Nằm cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 8 km về phía đông nam, nằm ngay trên tuyến đường Đà Nẵng-Hội An, thuộc phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn. Ngũ Hành Sơn sở hữu vẻ đẹp hội tụ của vùng trời biển, non nước hữu tình với những giá trị lịch sử, văn hóa và tâm linh sâu sắc. Với hệ thống hang động, những ngọn núi cao, những ngôi chùa cổ cùng làng nghề truyền thống, Ngũ Hành Sơn là điểm dừng chân hấp dẫn trên hành trình khám phá di sản miền Trung. Tại đây, các dấu ấn văn hóa  -lịch sử còn in đậm trên mỗi công trình chùa tháp đầu thế kỷ XIX, trên mỗi tác phẩm điêu khắc Chăm của thế kỷ XIV, XV, những bút tích thi ca thời Lê, Trần còn in dấu trên các vách đá rêu phong trong các hang động.

Trong các ngọn núi, Thủy Sơn là hòn lớn nhất, kiều diễm nhất. Núi cao 106m, có 3 ngọn ở 3 tầng giống như 3 ngôi sao (Tam Thai), đây cũng là nơi tập trung nhiều hang động chùa chiền nhất. Ngũ Hành Sơn nằm ngay trên tuyến đường Đà Nẵng-Hội An, nay thuộc phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn.

Thủy Sơn

Ngọn Thủy Sơn
Từ ngọn Thủy Sơn có thể nhìn rõ Ngũ Hành Sơn

Là ngọn núi ở phía Bắc của quần thể Ngũ Hành Sơn, đây là ngọn núi lớn và đẹp nhất, thường được nhiều du khách đến viếng thăm và vãn cảnh.

Thủy Sơn nằm trên dải đất rộng theo hướng Đông Bắc, khoảng 7 ha, cao 106m, có 3 đỉnh nằm ở 3 tầng giống như 3 ngôi sao Tam Thai ở đuôi chòm sao Đại Hồng Tinh (tên dân gian gọi là sao Cày), nên còn có tên gọi là núi Tam Thai.

Để lên được các hang động và chùa chiền tại Thủy Sơn có thể đi bằng hai con đường: cổng phía Tây của núi gồm có 156 bậc tam cấp dẫn đến chùa Tam Thai hoặc lên cổng phía Đông gồm có 108 bậc dẫn lên chùa Linh Ứng, đa số du khách đều lên núi theo cổng phía Tây và đi xuống bằng cổng phía Đông.

Đường lên Thủy Sơn là những bậc đá tự nhiên, được sắp xếp theo hình bậc thang, có lan can hai bên cao khoảng 0.6m, độ rộng của đường đi khoảng từ 3m – 5m nên dù có nhiều đoàn khách lên xuống cùng lúc cũng dễ dàng. Bậc tam cấp có độ dốc thoai thoải, tổng chiều dài có độ cao chỉ khoảng 80m so với mực nước biển và du khách chỉ khoảng 10 phút để leo lên hết đoạn đường này. Sau đó, du khách bắt đầu tham quan các động và chùa trên một địa hình thoai thoải và tương đối bằng phẳng. Tuy đoạn đường dài có tới 156 bậc tam cấp nhưng có nhiều chiếu nghỉ được đặt các ghế đá để du khách tạm dừng chân lấy sức trước khi tiếp tục lên chùa Tam Thai.

Được biết, Thủy Sơn là ngọn núi được vua Minh Mạng đến ngự du viếng cảnh nhiều nhất. Nhà Vua đã đến đây 3 lần vào các năm Minh Mạng thứ VI (1825), Minh Mạng thứ VIII (1827), và Minh Mạng thứ XVIII (1837). Ngay lần đến vãn cảnh đầu tiên, Nhà Vua đã cho xây dựng hai con đường bậc cấp lên núi, đó là lối lên chùa Tam Thai và lối lên chùa Linh Ứng. Ngọn cao nhất 106m ở phía Tây Bắc của Thủy Sơn gọi là Thượng Thai gồm có Vọng Giang Đài, chùa Tam Thai, chùa Tam Tôn, chùa Từ Tâm, khu nhà Hành Cung, động Hoa Nghiêm, động Huyền Không và động Linh Nham, ngọn thấp hơn một chút ở phía Nam gọi là Trung Thai gồm có Cổng Trời (Cổng Vân Căn Nguyệt Quật), động Vân Thông, động Thiên Long, động Thiên Phước Địa; ngọn phía Đông thấp nhất gọi là Hạ Thai gồm có Vọng Hải Đài, chùa Linh Ứng, tháp Xá Lợi và động Tàng Chơn. Ngoài ra tại Thủy Sơn còn có 2 di vật cổ quý hiếm, đó là bia cổ Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật tại động Hoa Nghiêm và tấm kim bài hình quả tim lửa có bút tích của Vua Minh Mạng ban tặng cho chùa Tam Thai.

Thổ Sơn

Là một trong 5 cụm núi Ngũ Hành Sơn, nằm ở phía Tây Bắc danh thắng Ngũ Hành Sơn, tên dân gian thường gọi là núi đá Chồng, núi Ghềnh. Đây là ngọn núi đất, thấp nhất nhưng cũng dài nhất, trông như con rồng nằm dài trên bãi cát. Thân núi có một lớp màu cỏ mỏng bao phủ để lộ nhiều chỗ màu đất sét đỏ, trên núi có nhiều gạch cổ, dấu tích của kiến trúc Chăm do người Chămpa để lại.

Dưới chân núi hiện có chùa Long Hoa, chùa Huệ Quang và dấu tích của một địa đạo. Theo thi sĩ Quách Tấn, sát chân núi có bến đò, gọi là Bến Ngự (sử Nguyễn ghi là bến Hóa quê), vì xưa kia mỗi lần nhà vua đến viếng Ngũ Hành Sơn thì đậu thuyền tại đó. Tuy nhiên, có người cho rằng bến này ở núi Kim Sơn. Trong núi có một cái hang cửa quay về phía Tây Nam, ngách vào rất hẹp, ăn sâu vào khoảng 20m theo hình chữ M chỉ đủ một người lách qua. Hang thông lên đỉnh núi bằng một lỗ nhỏ có tên là hang Cóc hay hang Bồ Đề.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, quân và dân ta dùng hang này làm nơi tránh giặc, có lần giặc đã phu hơi độc vào cửa hang để tiêu diệt các chiến sĩ ta nhưng đồng bào và chiến sĩ đã rút lên đỉnh núi an toàn. Thời kháng chiến chống Mỹ, hang Bồ Đề vẫn là công sự của du kích để bám sát vị trí địch đóng tại Thổ Sơn và giật mìn bắn tỉa, phục kích, gây cho địch nhiều thiệt hại.

Cạnh Thổ Sơn là đình làng Khuê Bắc, ngôi đình làng được xây dựng sớm ở Ngũ Hành Sơn nhưng hiện nay bị hư hại nhiều. Ngoài ra, gần ngọn núi Thổ Sơn, còn có ngôi Miếu cổ với cây đa mọc bao phủ lên miếu, trong miếu thờ cúng các vị tổ tiên ở làng Sơn Thủy, người dân thường gọi là Miếu làng Sơn Thủy. Tại đây có chùa Long Hoa, chùa Huệ Quang, chùa Hương Sơn và Giác Hồng Viên.

Động Âm phủ

Ở ngọn Thủy Sơn có một hang động cực kỳ huyền bí và âm u ngay từ chính cái tên – động Âm Phủ. Bước qua cầu Nại Hà, du khách sẽ bước vào một thế giới cõi âm, nơi diễn ra hình phạt của các loại tội ác. Trong động Âm Phủ có rất nhiều ngóc ngách, hang hẻm đi sâu xuống lòng tượng trưng các tầng của địa ngục. Du khách tới đây có thể thấy Đài Linh Anh, điện Phán Quy, điện Minh Vương, ngục A Tỳ, suối Giải Oan…

động Âm Phủ
Lối vào động Âm Phủ
Động Âm phủ
Ở đây cái Ác sẽ bị trừng phạt, cái Thiện sẽ được thăng hoa.

Chùa Tam Thai

chùa Tam Thai
Chùa Tam Thai là nơi công chúa Ngọc Lan, em gái vua Minh Mạng phát nguyện đi tu suốt đời.

Nằm ở phía Tây Nam ngọn Thủy Sơn, với cổng Tam Quan rêu phong, cổ kính, chùa Tam Thai tọa lạc trên một khuôn viên bằng phẳng, có chu vi khoảng 200m. Đây là ngôi chùa cổ được xây dựng từ lâu đời. Theo Thư tịch và Bia ký ghi lại thì chùa được xây dựng vào thời đô thị cổ Hội An mới hình thành, do Thiền sư Hưng Liên thuộc dòng thiền Tào Động của Trung Hoa đến trụ trì và lập đạo tràng từ trước những năm cuối thế kỷ 16. Năm 1825, chùa được Vua Minh Mạng phong Quốc tự, đến nay chùa đã trải qua 12 đời trụ trì.
Trong khuôn viên chùa hiện vẫn còn dấu tích và cổng của khu nhà hành cung, nơi lưu dấu một thời vua Minh Mạng và quan lại Triều Nguyễn đã từng ngự du viễn cảnh tại đây và lập đàn cầu Quốc thái Dân an. Qua thời gian, chùa bị hư hỏng và bị tàn phá nhiều bởi chiến tranh và thiên tai nên đã nhiều lần trùng tu, trong đó có lần trùng tu quy mô và hoàn chỉnh nhất vào năm 1995. Dù đã trải qua nhiều lần trùng tu nhưng chùa vẫn giữ nguyên nét kiến trúc cổ của lăng tẩm và chùa tháp kinh thành Huế.

Nhìn từ những đỉnh cao như Hải Vân, Bà Nà, Ngũ Hành Sơn giống như một khu “non bộ thiên tạo khổng lồ” nổi lên ngay giữa lòng thành phố, là một tặng phẩm vô cùng quý giá của thiên nhiên ban tặng cho thành phố, và vẫn luôn là niềm tự hào của người dân Đà Nẵng.

Tham khảo thêm: Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng có bao nhiêu ngọn núi?

Vui lòng để nguồn: https://yeudanang.biz/kham-pha-hung-vi-ngu-hanh-son.html
Loading...